BIGtheme.net http://bigtheme.net/ecommerce/opencart OpenCart Templates
Home / Tổng hợp / Lịch sử hình thành và phát triển của ngành kế toán

Lịch sử hình thành và phát triển của ngành kế toán

Lịch sử hình thành và phát triển của ngành kế toán

Đây có lẽ là vấn đề ít được các bạn kế toán quan tâm nhiều, tuy nhiên thông tin này ketoantd.com nghĩ vẫn cần thông tin tới độc giả để các bạn có thêm chút kiến thức về nghề của mình được hình thành và phát triển như thế nào trong các giai đoạn. Bài viết này được khởi tạo không nằm ngoài lý do trên.

Sự hình thành và phát triển của kế toán – quản trị tại việt nam

Theo Nguyễn Việt & Võ Văn Nhị (2006), kế toán ở Việt Nam được Nhà nước sử dụng từ năm 1945 chủ yếu cho việc quản lý thu chi ngân sách. Một số xí nghiệp quốc doanh cũng có sử dụng kế toán.

Từ sau 1954, miền Bắc chuyển sang xây dựng CNXH, lúc này kế toán được sử dụng như một công cụ phản ánh và giám sát các hoạt động kinh tế và việc sử dụng vốn của Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân.

Năm 1957, Nhà nước ban hành chế độ kế toán áp dụng cho các ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản. Sau đó vào năm 1961, Chính phủ đã ban hành điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước.

Năm 1970, Nhà nước ban hành sửa đổi chế độ kế toán nhằm tăng cường vai trò của các kế toán trưởng và ban hành hệ thống tài khoản kế toán thống nhất áp dụng cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân.

Năm 1988, Nhà nước ban hành tiếp Pháp lệnh kế toán và thống kê. Sau một thời gian dài thực hiện, đến năm 1988 hệ thống kế toán mới được ban hành, tuy nhiên hệ thống này theo các chuyên gia là còn nhiều thiếu sót.

Do vậy đến năm 1994, hệ thống kế toán mới ra đời áp dụng thử nghiệm trong một số doanh nghiệp để đến ngày 1 tháng 11 năm 1995, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp bảo đảm quản lý thống nhất và kế toán thực sự trở thành công cụ cho quản lý tại nước ta.

Lịch sử ra đời, hình thành và phát triển của các nền kế toán quốc tế

Thời Cổ đại

Kế toán ở vùng Mesopotamia Cổ đại

Khoảng thế kỷ 36 trước Công nguyên, nền văn minh Át-xi-ri, Babylon và Xume phát triển rực rỡ ở thung lũng Mesopotamia – nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi mà trở thành vùng nông nghiệp trù phú. Đây cùngg là nơi xuất hiện những ghi chép cổ xưa nhất về hoạt động buôn bán. Khi người nông dân đó trở nờn giàu có, các hoạt động kinh doanh dịch vụ và các ngành công nghiệp nhỏ phát triển ở khu vực lân cận thung lũng Mesopotamia. Thành phố Babylon và Ninevah trở thành các trung tâm thương mại của vùng, trong đó Babylon được xem như là tiếng nói của kinh doanh và chính trị của cả vùng Cận Đông. Có hơn một ngân hàng ở Mesopotamia sử dụng thước đo tiêu chuẩn là vàng và bạc và cho phép một số giao dịch bằng tiền gửi ngân hàng.

Trong suốt kỷ nguyờn này, tồn tại các quy tắc pháp lý quy định về việc ghi chép tài sản và các giao dịch liên quan đến tài sản. Vì thế, gần như toàn bộ các giao dịch được ghi lại và được mô tả bởi các bên liên quan trong suốt thời kỳ này. Nhiệm vụ của người thực hiện việc ghi chép kế toán khá đơn giản, nhưng lại bao quát. Ngoài việc ghi lại trọn vẹn một giao dịch, anh ta cùng cần chắc chắn rằng các giao dịch thoả thuận đó đáp ứng được yêu cầu pháp lý áp dụng cho các giao dịch thương mại.

Ở Mesopotamia, các giao dịch được ghi chép lại trên mảnh gốm sứ. Mảnh gốm được nung theo hình dạng và kích thước tuỳ theo nội dung của các giao dịch. Mỗi giao dịch được ghi chép lại theo những nội dung sau: tên của các bên tham gia buôn bán, loại hàng hoá buôn bán và giá cả cùng những điều cam kết quan trọng khác. Sau đó, mỗi bên sẽ chứng nhận sự hiện diện của họ cùngg như thoả thuận giữa họ lên mảnh gốm bằng cách ấn mạnh lên mảnh gốm “dấu” riêng của họ. Người ghi chép tài sản sau đó sẽ hong khô mảnh gốm để đảm bảo những điều ghi chép trên mảnh gốm không thể bị thay đổi.

Kế toán ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp và Roma cổ đại

  • Kế toán ở Ai Cập cổ đại cùngg phát triển theo cách tương tự như ở Mesopotamia. Tuy nhiên, người Ai Cập sử dụng giấy làm từ cói thay vì gốm, do đó việc ghi chép chi tiết trở nên dễ dàng hơn. Ở Ai Cập, người ghi sổ kế toán phải lưu trữ cẩn thận các tài liệu ghi chép của mình trong một nơi gọi là kho lưu trữ sau khi những tài liệu đó đó được kiểm tra bởi một hệ thống soát xét nội bộ chặt chẽ. Chính do hệ thống kiểm tra này mà những người ghi sổ kế toán phải luôn trung thực và cẩn thận vì họ sẽ bị xử phạt nếu vi phạm các điều luật liên quan. Mặc dù những ghi chép như vậy rất quan trọng nhưng kế toán Ai Cập cổ xưa chưa bao giờ tiến bộ xa hơn công việc liệt kê đơn giản trong suốt hàng nghìn năm tồn tại của nó. Có lẽ nguyên nhân cốt yếu là do sự mù chữ và thiếu một loại tiền kim loại thích hợp đó cản trở sự phát triển của nó. Trên thực tế, người Ai Cập sử dụng vàng và bạc với tư cách là vật trao đổi ngang giá chung. Tuy nhiên, phương pháp đo lường giá trị đơn không thể mô tả tất cả hàng hoá, do đó làm cho việc tích luỹ và tổng kết tài sản trở nên khó khăn, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả hệ thống kế toán.
  • Kế toán ở Trung Hoa trước Công Nguyên được sử dụng cho mục đích đánh giá hiệu quả của chương trình Chính phủ và những người vận hành chương trình đó.
  • Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đó áp dụng “kế toán công khai” để tạo điều kiện cho toàn thể công dân theo dõi tình hình tài chính chính phủ. Thành viên của Hiệp Hội Nhân dân Athens lập ra những quy tắc pháp lý cho vấn đề tài chính và quản lý thu chi của hệ thống công thông qua sự giám sát của 10 nhân viên kế toán Nhà nước. Có lẽ sự đóng góp quan trọng nhất của Hy Lạp là việc sáng tạo ra tiền kim loại vào khoảng năm 600 trước Công Nguyên. Việc sử dụng rộng rãi tiền kim loại trong một thời gian dài đó có tác động đến sự phát triển của kế toán. Hoạt động ngân hàng ở Hy Lạp cổ đại đạt được sự phát triển nhiều hơn các xã hội trước. Các ngân hàng giữ sổ ghi chép, tiền cho vay, và thậm chí thực hiện các giao dịch chuyển tiền cho các cư dân ở các thành phố cách xa nhau thông qua các ngân hàng trong cùng hệ thống.
  • Kế toán ở Roma phát triển từ việc ghi chép truyền thống của các gia đình được thực hiện bởi người chủ gia đình. Việc ghi chép này vốn nhằm mục đích phục vụ cho việc tính thuế và xác định vị thế cùngg như quyền lực của mỗi gia đình. Ở Roma duy trỡ một hệ thống chứng từ và cân đối chính xác đối với các hoạt động thu chi của chính phủ được dưới sự thực hiện người quản lý ngân sách quốc gia. Hệ thống kế toán công được kiểm tra thường xuyên bởi các nhân viên kiểm tra sổ sách và những người quản lý ngân sách quốc gia phải bàn giao lại toàn bộ công việc cho người kế nhiệm của mình và cho Thượng viện La Mã trước khi thôi việc. Một trong những cách tân của kế toán La Mã là việc sử dụng ngân sách thường niên nhằm phối hợp các hoạt động tài chính khác nhau của nhà nước, hạn chế chi tiêu để đạt được mức thu mong muốn và số thuế thu được trong một đơn vị quản lý sau khi xem xét khả năng chi trả của dân cư.

Thời Trung đại

Thời kỳ kéo dài hàng nghìn năm kể từ khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đến trước thời điểm ra đời của cuốn sách đầu tiên của Luca Pacioli mang tên “Summa” được coi là thời kỳ đình trệ của kế toán. Các hoạt động kế toán diễn ra ngoài lãnh thổ của Italy thường không được đề cập đến trong các phần tổng kết lịch sử. Tuy nhiên, như nhà lịch sử Michael Chatfield đó quan sát thấy, thông tin kế toán thời trung cổ đó trở thành một trong những nền tảng của việc quản lý và các kỹ thuật hạch toán cùngg đó có cơ hội phát triển nhanh chóng. Nhiệm vụ trung tâm của kế toán thời kỳ này là nhằm giúp cho Chính phủ và chủ sở hữu tài sản quản lý tài sản theo trình độ từ thấp lên cao.

Sự ra đời của phương pháp ghi sổ kép

Qua các giai đoạn phát triển của kế toán ở các quốc gia khác nhau, có thể thấy kế toán sử dụng phương pháp ghi đơn, đơn giản và mang tính liệt kê mô tả nhiều hơn. Nguyên nhân cốt yếu là thiếu chữ viết và tiền giao dịch thích hợp.

Phương pháp ghi sổ kép ra đời vào thế kỷ 14 ở Italy gắn liền với đóng góp của Luca Pacioli dựa trên cơ sở thống nhất 7 nhân tố tiền đề:

  • Tài sản riêng: quyền thay đổi sở hữu tài sản bởi vì ghi sổ được xem là việc ghi chép về tài sản và quyền tài sản thực.
  • Vốn: thể hiện năng lực của cải, bởi vì nếu không có nú hoạt động thương mại sẽ không thể thực hiện được.
  • Thương mại: sự trao đổi hàng hoá ở mức phổ biến, bởi vì hệ thống thương mại với quy mô nhỏ không thể tạo ra áp lực kinh doanh dẫn tới sự ra đời của một hệ thống có tổ chức thay thế cho việc ghi chép đơn thuần.
  • Tín dụng: giá trị hiện tại của hàng hoá trong tương lai.
  • Chữ viết: một hệ thống ghi chép thường xuyên bằng một ngụn ngữ thông dụng.
  • Tiền tệ: mẫu số thông dụng cho trao đổi.
  • Số học: làm phương tiện để tính toán lượng giá trị giao dịch.

Trong số những nhân tố trên, có một số nhân tố trên thực tế đó tồn tại ở thời cổ đại. Tuy nhiên, chỉ tới thời trung cổ chúng mới xuất hiện đầy đủ và đủ mạnh để thúc đẩy con người tới sự sáng tạo ra phương pháp ghi sổ kép.

Nhờ đó, thương mại và trao đổi buôn bán đó được đẩy lên tầm phát triển mới và loài người đó tỡm được phương pháp xác định lợi nhuận chuẩn xác hơn.

Kể từ Pacioli, phương pháp ghi sổ đó được thay đổi. Chuỗi những sự kiện trong chu kỳ kế toán và các trình tự đặc biệt được Pacioli miêu tả trong cuốn “De Computis” khá quen thuộc với kế toán viên hiện đại. Trên thực tế, sự khác nhau giữa trình tự kế toán hiện đại với phương pháp kế toán của Pacioli là sự bổ sung và trình độ tinh vi hơn xuất phát từ nhu cầu của quy mô hoạt động kinh doanh lớn hơn. Theo Luca Pacioli, một thương nhân thành công phải hội tụ được 3 thứ: đủ vốn, người ghi sổ có năng lực và hệ thống kế toán cho phép anh ta có được những thông tin về tình hình tài chính của mình một cách nhanh nhất. Pacioli đưa ra hệ thống gồm các thành phần sau:

  • Bản ghi: nhằm ghi chép lại các nghiệp vụ phát sinh theo thứ tự phát sinh. Các nghiệp vụ này có thể được ghi sổ theo nhiều đơn vị tiền tệ khác nhau được chấp nhận ở thời kỳ đó và sau đó được quy đổi ra đồng tiền hạch toán chung.
  • Nhật ký: bao gồm ghi nợ, có và phần giải thớch nội dung nghiệp vụ được ghi sổ. Không tính tổng quy mô nghiệp vụ phát sinh và không ghi đối ứng.
  • Sổ cái: đây là bộ phận gần giống nhất với kế toán hiện đại. Cột số tiền và cột ngày tháng giống y hệt như trong sổ kế toán hiện nay, với các mục bao gồm các đoạn ngắn, ghi nợ ở bên trái và ghi có ở bên phải của trang sổ được đôi. Sau khi sổ kế toán được thiết lập, hai được chéo sẽ được kẻ xuyên suốt mỗi lần ghi sổ, một từ trái sang phải khi ghi nợ và một từ phải sang trái khi ghi có.

Kết thúc chu trình kế toán là việc lờn bảng cân đối thử. Các số dư bên nợ trên sổ cái được ghi vào bên trái của bảng cân đối cùng các số dư bên có trên sổ cái được ghi vào bên phải của bảng cân đối. Nếu việc ghi sổ đó được thực hiện chuẩn xác theo bảng cân đối sẽ cân giữa hai bên.

Thời Cận đại và Đương đại

Thế kỷ 19 ở Scotland, Anh và Mỹ

Scotland được coi là nơi sinh của kế toán hiện đại. Đây là nơi sản sinh các nguyên tắc kế toán và cùngg là nơi có những hội kế toán công khai lâu đời nhất. Kế toán trở nên có vai trũ đặc biệt quan trọng với những ảnh hưởng không thể phủ nhận đến sự phát triển kinh tế.

Sau Scotland, kế toán phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới. Vào giữa thế kỷ 19, Anh đó trở thành một nước công nghiệp dẫn đầu về sản xuất than đá, sắt và dệt may, đồng thời trở thành trung tâm tài chính của thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính đặt ra yêu cầu về kế toán phá sản ở cả những doanh nghiệp mạnh và những doanh nghiệp đang trên bờ phá sản. Năm 1880, Hiệp hội kế toán Anh và xứ Wales đó quy tụ được tất cả các tổ chức kế toán trong nước với số thành viên ban đầu là 587 người và sau đó kết nạp thêm 606 người có kinh nghiệm khác. Tiêu chuẩn về đạo đức và trình độ để được gia nhập Hiệp hội được ban hành và các thành viên Hiệp hội bắt đầu sử dụng danh hiệu kế toán viên chuyên nghiệp khi hành nghề.

Cuối những năm 1800, người Anh bắt đầu đầu tư tài chính ồ ạt vào những ngành công nghiệp đang phát triển ở Mỹ, do đó các kế toán Scotland và Anh bắt đầu di chuyển sang Mỹ để kiểm tra soát xét các hoạt động đầu tư này. Một số trong những người đó ở lại hành nghề ở Mỹ và lập nên một vài công ty kế toán ở đây. Số lượng các kế toán hành nghề công khai tăng lên nhanh chóng: từ 19 người năm 1850 lên 233 người năm 1886. Các nhóm kế toán ở các bang đó liờn kết với nhau thành lập nờn Hiệp hội Kế toán Mỹ, tiền thõn của Hiệp hội Kế toán có giấy chứng nhận hành nghề Mỹ. Tuy nhiên ở thời điểm này, kế toán ở Mỹ vẫn được coi là mới bắt đầu và chỉ thực sự bước vào giai đoạn phát triển từ sau cuộc nổi dậy của dân chúng chấm dứt giai đoạn phát triển nền kinh tế nông nghiệp và chuyển sang nền kinh tế công nghiệp trong những thập niên sau đó.

Như vậy, có thể thấy, đến cuối thế kỷ 19, kế toán đó phát triển thành một nghề mang tớnh xã hội hoỏ và chuyờn nghiệp hoỏ. Sang đến thế kỷ 20, với những biến cố về kinh tế, kế toán đó từng bước được hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ.

Thế kỷ 20 ở Mỹ

Đầu thế kỷ 20, do sự xuất hiện của các vụ xỡ-căng-đan tài chính liên quan tới độc quyền và tư bản hoá quá mức, Uỷ ban thương mại giữa các tiểu bang (ICC) của Mỹ đó ban hành hệ thống kế toán thống nhất – được coi là ví dụ đầu tiên về việc kế toán được sử dụng như một công cụ của luật pháp liên bang. Khác với Anh – sử dụng bảng cân đối nhằm quản lý việc sử dụng vốn góp của cổ đông của ban lãnh đạo doanh nghiệp, bảng cân đối kế toán ở Mỹ chủ yếu nhằm phục vụ cho các ngân hàng – những người quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp hơn là khả năng thu lợi nhuận.

Vào đầu năm 1920, hoạt động kinh doanh ở Mỹ có sự thay đổi đáng kể do đợt sụt giá hàng tồn kho nghiêm trọng (giá bán buôn giảm đến 40%). Hậu quả là dũng tiền lưu chuyển chậm, các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và thiếu hụt tín dụng. Để đối phó, các hóng kinh doanh sử dụng các nguồn tài chính ít chặt chẽ hơn để bổ sung cho dũng tiền hiện tại, một trong số những nguồn tài chính được ưa chuộng là từ phát hành cổ phiếu. Các cổ đông, khi đó sẽ trở thành những người quan tâm đầu tiên đến tình hình tài chính, và do đó tình hình kết quả kinh doanh bắt đầu được coi trọng hơn bảng cân đối kế toán.

Các nhân tố khác như thuế thu nhập và chi phí kế toán cùngg góp phần thúc đẩy sự quan tâm tới doanh thu và chi phí. Theo dũng thời gian, có ít nhất là bốn loại báo cáo về luồng vốn được sử dụng tổng hợp sự thay đổi về lượng tiền, thay đổi trong tài sản lưu động, vốn lưu động và toàn bộ các hoạt động tài chính.

Trong những năm 40 của thế kỷ 20, kế toán tăng cường sử dụng báo cáo vốn để đo lường dũng tiền thực thay vì chỉ đơn thuần đo lường tổng thay đổi của vốn lưu động giữa các thời điểm lập bảng cân đối khác nhau. Báo cáo vốn trở thành bộ phận chủ yếu của báo cáo tài chính và từ năm 1971 là một bộ phận của báo cáo thường niên của các cổ đông theo yêu cầu của Hiệp hội Kế toán được cấp chứng chỉ hành nghề.

Bước vào kỷ nguyên của thời đại thông tin (cuối thể kỷ 20 đến nay), kế toán đó chuyển từ kế toán thủ công sang kế toán trên mỏy, một bước phát triển vượt bậc, có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong việc đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho những người quan tâm. Chi phí sản phẩm ngày nay phần lớn được cấu thành từ chi phí nghiên cứu và triển khai (R&D), chất xám và dịch vụ. Hệ thống kế toán của Pacioli thực tế không thay đổi đáng kể trong suốt 500 năm qua và sẽ cùng phự hợp chừng nào của cải của loài người cùng mang tớnh vật chất, chi phí bao gồm chủ yếu là chi phí vật liệu và nhân công.

Hệ thống kế toán sử dụng phương pháp ghi sổ kép dựa trên cơ sở thông tin gốc và cho phép cung cấp các báo cáo tài chính trong vũng 2 tuần kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán. Hoạt động kinh doanh ngày nay thậm chí yêu cầu cung cấp thông tin kế toán thậm chí trong một khoảng thời gian ngắn hơn thế, gần như là tức theo. Điều đó có thể thực hiện được với sự trợ giúp của máy tính. Với các chương trình phần mềm kế toán như Oracle, PeopleSoft và SAP, thực hành kế toán giống như một hệ thống thông tin cơ sở tích hợp tất cả các sự kiện về cả mặt định lượng và định tính. Nhờ đó, các báo cáo kế toán có thể được thiết lập chỉ sau một cái “nhấn nút”.

Theo thứ bậc của nhu cầu tài chính, các thông tin tài chính cần được cung cấp bao gồm

  • Thông tin về ngân sách: cung cấp số liệu về lượng tiền có thể huy động cho chi tiêu cho một chương trình, dự án hay dịch vụ nào đó. Đồng thời, nó cùngg cung cấp các dự tính về doanh thu và doanh thu bằng tiền để trang trải cho nhu cầu chi tiêu.
  • Tình trạng ngân quỹ: cung cấp thông tin tài chính trong mối liờn hệ với chi tiờu/nghĩa vụ và số dư ngân quỹ. Đồng thời, cung cấp các thông tin về doanh thu thực thu trong so sánh với doanh thu dự tính.
  • Chi phớ quản lý: cung cấp thông tin về các nguồn lực sử dụng cho chương trình, dự án hay dich vụ, không kể nguồn lực tài chính.
  • Chi phí hoạt động: cung cấp thông tin về chi phí cho chương trình, dự án hay dich vụ ở từng cấp độ về quy mô, từ đó cho thấy mối liên hệ giữa kết quả thực hiện chương trình, dự án và dịch vụ với chi phí bỏ ra để thu được những kết quả này.

Tuy nhiên, tuỳ vào từng thời điểm trong chu kỳ kinh doanh và mục đích sử dụng thông tin, thứ tự yêu cầu thông tin cùngg có thể thay đổi. Hiện nay, kế toán đó phát triển với ba nhánh là kế toán tài chính, kế toán quản trị và phân tích hoạt động kinh doanh, tạo ra khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng thông tin kế toán.

  • Kế toán tài chính: sắp xếp, phân loại, đo lường và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; lập báo cáo lỗ lãi và bảng cân đối vào cuối kỳ hạch toán nhằm phản ánh tình hình hoạt động và vị trí của doanh nghiệp trong kỳ.
  • Kế toán quản trị: bao gồm bốn chức năng chính là lập dự toán ngân sách, quản trị chi phí, phân tích chi phí – lợi nhuận và lập báo cáo bộ phận. Các thông tin do kế toán quản trị cung cấp mang tính nội bộ, chủ yếu phục vụ cho các cấp quản trị ra quyết định phù hợp.
  • Phân tích hoạt động kinh doanh: cung cấp thông tin về tình hình hoạt động trong kỳ trong mối quan hệ so sánh với kỳ trước và với kỳ kế hoạch, từ đó người sử dụng thông tin có thể nắm được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, nguyên nhân và tỡm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Trên đây là một số thông tin mang tính lịch sử hình thành, ra đời và phát triển của kế toán việt nam và kế toán quốc tế. Các bạn đang làm luận văn, báo cáo, có thể tham khảo thông tin trên.

Ketoantd.com chúc các bạn có thêm những thông tin hữu ích khi đọc bài viết trên !

About admin

Trung tâm kế toán hà nội, chuyên đào tạo kế toán tổng hợp thực hành thực tế, kế toán thuế, kế toán phần mềm, kế toán trưởng và cung cấp dịch vụ kế toán trọn gói cho doanh nghiệp. Contact : Mr Đạt 0966.694.823